Đề kháng kháng sinh hiện đang là một trong những thách thức y tế toàn cầu nghiêm trọng nhất, làm giảm hiệu quả của các phương pháp điều trị và gia tăng tỷ lệ tử vong. Nhằm đối phó với tình trạng này, ngày 31/12/2020, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 5631/QĐ-BYT về việc phê duyệt tài liệu “Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện”. Một trong những trụ cột quan trọng nhất của hướng dẫn này là quy trình giám sát chặt chẽ việc sử dụng kháng sinh và tình hình đề kháng kháng sinh tại cơ sở y tế.

Tầm quan trọng của hoạt động giám sát

Hoạt động giám sát không chỉ dừng lại ở việc thu thập số liệu mà còn đóng vai trò cốt lõi trong việc đánh giá hiệu quả của chương trình quản lý kháng sinh. Thông qua giám sát, các bệnh viện có thể xác định được xu hướng tiêu thụ thuốc, phát hiện các vấn đề bất hợp lý trong kê đơn và nắm bắt được sự biến đổi của mô hình vi khuẩn gây bệnh. Đây là cơ sở dữ liệu thực chứng để Hội đồng Thuốc và Điều trị xây dựng các can thiệp phù hợp, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh.

Giám sát sử dụng kháng sinh

Theo Quyết định 5631/QĐ-BYT, việc giám sát sử dụng kháng sinh cần được thực hiện định kỳ và có hệ thống. Mục tiêu là đo lường lượng kháng sinh tiêu thụ và đánh giá chất lượng kê đơn.

Về giám sát tiêu thụ, chỉ số được khuyến cáo sử dụng thống nhất là liều xác định trong ngày (DDD – Defined Daily Dose). Để đảm bảo tính chính xác và khả năng so sánh, chỉ số DDD cần được hiệu chỉnh cho 100 hoặc 1000 (người – ngày hoặc ngày – giường). Đơn vị Dược lâm sàng chịu trách nhiệm thu thập dữ liệu từ phần mềm quản lý dược hoặc bệnh án, sau đó phân tích để so sánh xu hướng sử dụng giữa các khoa lâm sàng, giữa các thời điểm khác nhau hoặc so sánh với các bệnh viện cùng hạng. Ngoài DDD, chỉ số ngày điều trị (DOT – Days of Therapy) cũng được khuyến khích áp dụng nếu điều kiện công nghệ thông tin cho phép, giúp phản ánh chính xác hơn việc phơi nhiễm kháng sinh của người bệnh.

Về giám sát chất lượng kê đơn, bệnh viện cần thực hiện thông qua các đợt khảo sát cắt ngang hoặc giám sát bệnh án hồi cứu/tiến cứu. Các tiêu chí đánh giá bao gồm: sự tuân thủ hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế hoặc của bệnh viện, tính hợp lý trong lựa chọn loại kháng sinh, liều dùng, đường dùng, khoảng cách đưa thuốc và thời gian điều trị. Đặc biệt, việc giám sát sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật cần được chú trọng để đảm bảo thuốc được dùng đúng thời điểm và không kéo dài quá thời gian quy định.

Giám sát đề kháng kháng sinh

Giám sát đề kháng kháng sinh là nhiệm vụ trọng tâm của khoa Vi sinh phối hợp với đơn vị Kiểm soát nhiễm khuẩn và Dược lâm sàng. Dữ liệu vi sinh cần được tổng hợp để xây dựng bản đồ đề kháng (antibiogram) của bệnh viện ít nhất mỗi năm một lần.

Nội dung giám sát bao gồm việc theo dõi tỷ lệ phân lập được các loại vi khuẩn gây bệnh thường gặp và tỷ lệ đề kháng của chúng với các nhóm kháng sinh. Đặc biệt, bệnh viện phải giám sát chặt chẽ các chủng vi khuẩn đa kháng thuốc (MDRO) như Acinetobacter baumannii, Pseudomonas aeruginosa, Enterobacteriaceae sinh men ESBL hoặc kháng carbapenem (CRE), và Staphylococcus aureus kháng methicillin (MRSA).

Kết quả giám sát đề kháng kháng sinh đóng vai trò tiên quyết trong việc xây dựng phác đồ điều trị theo kinh nghiệm tại bệnh viện. Khi chưa có kết quả kháng sinh đồ, bác sĩ lâm sàng sẽ dựa vào dữ liệu giám sát này để lựa chọn kháng sinh ban đầu phù hợp nhất cho người bệnh, giúp tăng khả năng điều trị thành công ngay từ đầu và giảm thiểu nguy cơ bùng phát dịch khuẩn kháng thuốc.

Tổ chức thực hiện và báo cáo

Để công tác giám sát đạt hiệu quả, Quyết định 5631/QĐ-BYT yêu cầu sự phối hợp đa chuyên khoa chặt chẽ. Ban Quản lý sử dụng kháng sinh có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện, trong đó Khoa Dược là đầu mối về số liệu sử dụng thuốc và Khoa Vi sinh là đầu mối về số liệu đề kháng.

Các báo cáo giám sát cần được thực hiện định kỳ (hàng quý hoặc hàng năm) và gửi về Hội đồng Thuốc và Điều trị cũng như Ban Giám đốc để kịp thời có các chỉ đạo điều chỉnh. Đồng thời, thông tin phản hồi cần được gửi lại cho các khoa lâm sàng để các bác sĩ nắm được tình hình thực tế, từ đó điều chỉnh hành vi kê đơn hướng tới sự an toàn và hiệu quả tối ưu cho người bệnh.

ThS. Lê Việt Anh – Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ, Đào tạo liên tục