Sử dụng kháng sinh hợp lý là trụ cột trong khám chữa bệnh. Điều này đảm bảo an toàn cho người bệnh. Đồng thời, nó giúp ngăn chặn tình trạng kháng thuốc.
Bài viết này dựa trên Quyết định 5631/QĐ-BYT. Các cơ sở y tế cần xây dựng quy định quản lý chặt chẽ. Việc này dựa trên phân loại mức độ ưu tiên của thuốc.
Nguyên tắc xây dựng danh mục kháng sinh
Đơn vị Quản lý sử dụng kháng sinh cần phối hợp với Hội đồng Thuốc và Điều trị. Họ sẽ cùng xây dựng danh mục kháng sinh cho bệnh viện. Danh mục này phải phù hợp với mô hình bệnh tật. Nó cũng cần khớp với tình hình vi sinh tại đơn vị. Theo Quyết định 5631/QĐ-BYT, danh mục thuốc cần được phân chia rõ ràng. Dưới đây là các nhóm quản lý cụ thể.
Nhóm 1: Kháng sinh cần ưu tiên quản lý
Đây là nhóm bị kiểm soát chặt chẽ nhất. Chúng thường là kháng sinh dự trữ đặc biệt. Hoặc là thuốc có nguy cơ kháng thuốc rất cao.
Quy định cốt lõi của nhóm này là “Phê duyệt trước khi sử dụng”. Bác sĩ muốn kê đơn phải thực hiện hội chẩn. Sau đó, họ làm Phiếu yêu cầu sử dụng kháng sinh. Phiếu này cần sự phê duyệt của Ban quản lý hoặc người được ủy quyền.
Quy trình này có thể linh hoạt trong cấp cứu. Bác sĩ được phép dùng thuốc trước. Hồ sơ sẽ được hoàn thiện trong vòng 24 – 48 giờ. Quy định cũng có thể thay đổi tại một số khoa đặc thù. Ví dụ như khoa Hồi sức tích cực hay Truyền nhiễm.
Nhóm 2: Kháng sinh cần quan tâm
Nhóm này gồm các thuốc có nguy cơ sinh đề kháng cao. Hoặc là thuốc có phổ kháng khuẩn rộng. Ví dụ như Cephalosporin thế hệ 3, 4 hay Carbapenem.
Bệnh viện cần giám sát chặt chẽ mức độ tiêu thụ của nhóm này. Tỷ lệ kháng thuốc cũng cần được theo dõi sát sao. Bệnh viện có thể hạn chế đối tượng bác sĩ kê đơn. Việc phân cấp có thể dựa theo chuyên khoa hoặc thâm niên. Điều này đảm bảo thuốc được dùng đúng đích và tiết kiệm.
Xây dựng hướng dẫn điều trị nhiễm khuẩn
Bệnh viện bắt buộc phải có hướng dẫn chuyên môn về sử dụng kháng sinh. Hướng dẫn này áp dụng cho các bệnh lý nhiễm khuẩn thường gặp. Nó bao gồm cả điều trị theo kinh nghiệm và theo đích.
Nội dung hướng dẫn cần chi tiết hóa liều lượng và đường dùng. Thời gian điều trị cũng phải quy định rõ. Đặc biệt, cần chú trọng quy trình xuống thang kháng sinh. Việc chuyển từ đường tiêm sang đường uống là rất quan trọng.
Quy định về kháng sinh dự phòng phẫu thuật
Bệnh viện cần có quy trình riêng cho từng loại phẫu thuật. Quy định cần làm rõ loại kháng sinh được chọn. Thời điểm đưa thuốc thường là 60 phút trước rạch da.
Thời gian ngừng thuốc cũng cần được kiểm soát. Thông thường không quá 24 giờ sau mổ. Tuân thủ điều này giúp giảm thiểu nhiễm khuẩn vết mổ. Đồng thời, nó tránh lãng phí và ngăn ngừa kháng thuốc.
Việc tuân thủ Quyết định 5631/QĐ-BYT là bước đi tiên quyết. Nó giúp bệnh viện nâng cao chất lượng điều trị. Nguồn kháng sinh cũng sẽ được bảo vệ cho tương lai.
PGS. TS. Lã Ngọc Quang – Trung tâm Hỗ trợ, Đào tạo liên tục